Hôm nay, Thứ Năm ngày 11 tháng 6 năm 2026
Thứ Ba, 22/11/2011 - 15:54:34
(2859 lượt xem)
Tìm hiểu về khái niệm "sao chụp" trong nhiếp ảnh.

Nghệ thuật nhiếp ảnh màu không bị giới hạn bởi những đối tượng động hoặc tĩnh. Đôi khi có thể bạn được kêu gọi sao chụp lại những bức minh họa màu hoặc thậm chí các bức tranh. Sự tái tạo lại trung thực của một hình ảnh hoặc một tài liệu gốc được gọi là “sao chụp” bằng phương tiện nhiếp ảnh. Bản gốc có thể là bất kỳ ấn phẩm nào: Các bản vẽ tay, tài liệu viết tay hoặc những phiên bản gốc có tông màu liên tục chẳng hạn như các bức tranh, ảnh, biểu đồ, bản khắc … Loại hình nhiếp ảnh này không nặng về tính sáng tạo mà thuần túy là yếu tố kỹ thuật trong ứng dụng. Nó đặt ra những vấn đề nhất định liên quan đến ánh sáng, quang học và xử lý.

Khi bản gốc quá lớn hoặc quá nhạy cảm, dễ hỏng, chúng ta phải tạo ra một bản in bằng phương pháp nhiếp ảnh hoặc một slide có thể được sử dụng thay cho bản gốc. Tuy nhiên, lý do hiển nhiên chính là tạo ra một số lượng lớn các bản sao dành cho mục đích phân phối. Những vấn đề liên quan tăng gấp hai lần, bao gồm một mặt là kỹ thuật chụp ảnh cận cảnh, và mặt khác là vấn đề tái tạo màu sắc một cách chính xác.

Sao chụp trong nhiếp ảnh 
Cách tiếp cận

Lúc nào cũng vậy phương pháp tiếp cận đơn giản chỉ là bạn rọi sáng phiên bản gốc, chĩa máy ảnh hoàn toàn vuông góc với bản gốc, tìm ra cú chộp thích hợp và xử lý phim. Một số đối tượng chuyên ngành như tài liệu xưa cũ, những bản viết tay nhạy cảm dễ hỏng và những bức tranh hiếm có thể phải được xử lý với sự cẩn trọng tối đa. Đối tượng phải được giữ cho thật bằng phẳng, vuông góc với trục chính của thấu kính và song song với mặt phẳng của phim. Bạn cũng có thể gắn máy ảnh lên một máy phóng và đặt bản gốc lên bề mặt tấm chân đế của máy phóng. Ngày nay, hầu hết công việc sao chụp được thực hiện bằng những máy ảnh phim 35 mm nhưng đối với các bản sao nhỉnh hơn chút thì máy ảnh phim cuộn trở thành điều kiện cần thiết. Đối với những bản sao có kích thước lớn, thậm chí loại máy ảnh phim 4x5 inch sẽ được trưng dụng.

Thiết bị sao chụp

Đa số các máy ảnh có tiêu cự tập trung xuống đến khoảng cách 3 hoặc 4 feet, nhưng không tiến gần hơn được nữa. Giới hạn này là không đủ, ngoại trừ cho việc sao chụp bản gốc lớn. Do vậy để tiến lại gần hơn chúng ta cần một số loại thiết bị chụp cận cảnh (close-up).

Với hầu hết các máy ảnh nghiệp dư, cách duy nhất để tiến gần hơn đến đối tượng là sử dụng các ống kính bổ sung. Những ống kính này có sẵn độ dài tiêu cự khác nhau và thường được đánh dấu bằng độ đi-ốt (diopters). Đây là một đơn vị nghịch đảo của độ dài tiêu cự tính bằng mét.

Các thấu kính được gắn vào phía trước ống kính của các camera bình thường bằng những giá trị đi-ốt thích hợp, tương tự như việc ta gắn các bộ lọc vậy. Với ống kính máy ảnh được thiết lập giá trị đến vô cùng, chiều dài tiêu cự của ống kính bổ sung cũng chỉ rõ khoảng cách mà tại đó các đối tượng sẽ trở nên sắc nét. Hầu hết các ống kính bổ sung có luôn cả các bảng tiêu cự được sử dụng cho mục đích này. Đương nhiên những thấu kính bổ sung này có giá trị phù hợp ngang nhau đối với các loại máy ảnh không có sự chuyển động biến đổi tiêu cự, bao gồm cả máy ảnh dạng hộp cổ điển.

Với những máy ảnh nhất định, có sẵn thiết bị đo xác định chính xác khoảng cách của đối tượng và bối cảnh tầm nhìn bao quanh. Đây thường là những khung làm bằng kim loại được gắn cố định vào máy ảnh và nhô ra phía trước nó, với mặt phẳng của khung hình ở khoảng cách chính xác.

Thậm chí ở nhà bạn có thể tự làm cho mình một thước đo như vậy. Gắn máy ảnh trên một giá ba chân chĩa thẳng xuống dưới theo chiều dọc, mở phần thân sau của máy và chèn một mảnh thủy tinh mờ vào trong mặt phẳng phim. Đặt một tờ báo lớn trên sàn nhà và hạ thấp máy ảnh hoặc nâng cao nó cho đến khi hình ảnh in ấn thực sự sắc nét. Sau đó, lưu ý phạm vi bối cảnh và xây dựng khung hình cùng kích thước hoặc nhỏ hơn một chút. Cuối cùng tạo một kết nối phù hợp để nhờ đó đặt gọn khung hình ngay phía trước máy ảnh ở đúng khoảng cách đã định.

Dĩ nhiên lý tưởng nhất cho việc sao chụp là một chiếc máy ảnh với tấm kính mở rộng gấp đôi cộng với màn hình thủy tinh mờ. Loại máy này tiêu cự tập trung trên một phạm vi liên tục từ vô cực xuống đến mức tái tạo cùng kích cỡ. Hình ảnh luôn luôn hiển hiện trên màn hình và có thể được kiểm tra độ sắc nét và vị trí. Sử dụng một máy ảnh như thế thì khá là chậm, nhưng mà hầu như không thành vấn đề vì bạn đang sao chụp mà. Tấm kính màu đương nhiên là thứ không có sẵn, nhưng bạn có thể sử dụng phim tấm trong các những hộp đựng phim tấm thích hợp.

Một hệ thống làm việc hiệu quả bao gồm một máy ảnh ống kính phản xạ đơn (single lens reflex camera) với các ống kính có khả năng hoán đổi, được sử dụng kết hợp với các ống tuýp mở rộng. Hạn chế duy nhất là các ống tuýp chỉ bao gồm một hoặc hai phạm vi cố định khoảng cách của đối tượng thay vì một phạm vi liên tục. Tuy vậy hình ảnh vẫn hiển hiện trên màn hình tiêu cự và có thể được kiểm tra độ sắc nét tối đa. Với một hoặc hai máy ảnh, luôn có sẵn bộ phận xếp dùng cho việc thay thế các ống tuýp mở rộng, điều này đem lại cho bạn một phạm vi mở rộng liên tục hơn.

Một số máy ảnh thu nhỏ còn có riêng một hộc phản xạ trong hệ thống phụ kiện của chúng; bộ phận này được lắp ở phía trước của máy ảnh thay cho ống kính và chuyển đổi nó thành một máy ảnh ống kính phản xạ đơn. Sau đó nó có thể được sử dụng với các ống tuýp mở rộng hoặc một bộ phận xếp theo cách đã được mô tả ở trên.

Đối với công việc có tính tham vọng hơn, những dụng cụ sao chụp mở rộng luôn sẵn sàng cho những chiếc máy ảnh mà bạn đã chọn mua. Tuy nhiên những đồ nghề này chuyên biệt hơn trong các ứng dụng của chúng và được mở rộng nhiều hơn cho quy mô lớn và các cơ sở thương mại.

Kỹ thuật máy ảnh

Ở những loạt chụp cận cảnh như thế này thì chỉnh tiêu cự cính xác là điều trọng yếu, chỉ cần có một lỗi (khoảng một phần nhỏ của một inch) thì có nghĩa là hình ảnh sẽ bị mờ. Nếu bạn có thể kiểm tra điểm tiêu cự sắc nét nhất một cách trực quan (tức là trên một màn hình thủy tinh mờ, hay với máy đo khoảng cách bổ sung hoặc các phương tiện quang học tương tự) bạn hãy điều chỉnh các thiết lập tiêu cự theo một trong hai hướng từ lúc đối tượng xuất hiện cho đến điểm sắc nét nhất. Bằng cách từ từ giảm các mức điều chỉnh, bạn sẽ có thể đạt được dấu khung (bracket) của một loạt các thiết lập chính xác và tìm ra thiết lập tối ưu nhất ở giữa các giá trị. Với màn hình thủy tinh mờ sẽ gây cho bạn một chút khó khăn trong việc quyết định chính xác khi nào hình ảnh sắc nét nhất và đối tượng có thể xuất hiện sắc nét nhất tại một điểm khác hẳn khi bạn tiếp cận nó từ một hướng này hơn là khi bạn tiếp cận ở một hướng khác. Do đó, phương pháp lấy dấu khung (bracketing) phân chia các lỗi có thể ra làm hai nửa phân biệt và đặt điểm lý thuyết để định nghĩa sự sắc nét ở vị trí trung tâm. Để sao chụp, hãy dừng lại ở khẩu độ tối ưu của ống kính. Điều này không nhất thiết phải dừng lại ở khẩu độ rất nhỏ, nhưng xu hướng thường là khoảng từ 1 đến 3 nấc điểm dừng dưới mức khẩu độ tối đa của kính.

Lý do chính cho điều này không phải là vì chúng ta cần chiều sâu của bối cảnh, rốt cuộc thì chúng ta sẽ chỉ chụp một đối tượng đẹp với sự cẩn trọng có lý do, ta không nên để phát sinh lỗi chỉnh tiêu cự mà phải tìm ra một điểm mà tại đó các khuyết tật ống kính và quang sai phải ở mức tối thiểu. Các khẩu độ tối ưu cho việc sao chụp cũng có thể là nửa mức cho đến một mức nhỏ hơn khẩu độ khi ta chụp ảnh bình thường. Đối với phần lớn các ống kính thì chúng được tính toán sao cho hiệu suất tốt nhất của chúng ở khoảng cách xa hơn so với các cú chụp cận cảnh.

Tuy nhiên bạn cũng không nên dừng lại ở mức vượt ra ngoài các thiết lập tối ưu đã được xác định nghĩa nếu không thì chất lượng ảnh chụp có thể sẽ xấu đi. Với ống kính thuộc đẳng cấp tốt hơn, bạn có thể tham khảo ý kiến từ nhà sản xuất xem mức nào là tốt nhất. Ngoài ra bạn có thể thực hiện một vài pô ảnh chụp thử với khoảng cách được thiết lập một cách chính xác, và so sánh các bức ảnh này để xác định mức chuẩn (ví dụ như chụp bản gốc tờ báo của chúng tôi chẳng hạn) sau khi triển khai.

Bố trí máy ảnh

Khi bạn sao chụp trắng đen thì việc định vị cho máy ảnh đòi hỏi phải được thực hiện với sự cẩn trọng và sự chính xác tuyệt đối. Trước hết máy ảnh phải được đặt ngay chính giữa phía trên đối tượng sao cho trục ống kính đi qua giao điểm của hai đường chéo của bản gốc (vì bản gốc thường là hình chữ nhật). Thứ hai, mặt phẳng phim bắt buộc phải nằm song song với đối tượng. Đối với các tài liệu đơn lẻ cần đảm bảo rằng hình ảnh của bản gốc hoàn toàn che phủ khu vực âm bản, đặc biệt là với loại phim 35 mm. Bạn không thể cắt xén một tấm phim trong 35 mm! Nếu bạn muốn sao chụp một cuốn sách đầy đủ (ví dụ như các tác phẩm nghệ thuật) trên phim 35 mm thì chụp hai trang sách trên mỗi khung hình có vẻ kinh tế hơn.

 Sao chụp trong nhiếp ảnh
Đánh sáng

Đánh sáng để sao chụp. Việc thiết lập đánh sáng thông thường nhất cho các tài liệu là bạn phải có hai đèn cho mỗi bên của máy ảnh ở một góc 45 độ so với trục máy (hình trên). Tuy nhiên, sự sắp xếp này chỉ phù hợp cho những bản gốc mờ, những bức tranh sơn véc-ni hoặc tranh lộng kính vẫn có thể phản chiếu ánh sáng vào ống kính máy ảnh, và rất có thể bạn cần phải tăng góc giữa đèn và trục máy ảnh, di chuyển đèn từ vị trí 1-1' đến 2-2' hoặc thậm chí 3-3' (hình dưới). Tùy thuộc vào kích thước của bản gốc, đôi khi cần thiết phải có từ 2 đến 6 đèn.

Bạn có thể sử dụng bất kỳ nguồn ánh sáng nhân tạo nào, nhưng ánh sáng khuếch tán đẹp nhất là trong thực tế. Các loại đèn cao áp (photofloods), bóng đèn flash và đèn flash điện tử do vậy thích hợp hơn với ánh đèn phô-lô trên sân khấu (spotlights). Hãy hướng chúng về phía đối tượng ở một góc ít nhất là 45 độ so với trục ống kính và ở một khoảng cách chiếu sáng được phân bố đều trên toàn bộ khu vực của đối tượng. Để tránh các tia phản xạ không mong muốn từ bề mặt sáng bóng hoặc bán mờ đục (semi-matt), bạn hãy cẩn thận kiểm tra toàn bộ khu vực được sao chụp từ vị trí của ống kính máy ảnh và xem liệu có bất kỳ tia sáng nào của đèn đang chiếu vào ống kính hay không. Khi sử dụng bất kỳ loại đèn flash nào, bạn nên có một trợ lý rọi đèn pin về phía đối tượng được sao chụp, ở góc độ tương tự góc độ của các chùm ánh sáng đèn trong lúc bạn quan sát hiệu quả.

 
Kích thước đối tượng và khoảng cách của đèn đánh sáng. Đối với những bản gốc lớn đến 2,5 feet vuông (hình trên) các loại đèn nên đặt ở khoảng cách 5 feet tính từ bề mặt được sao chụp. Đối với tài liệu hoặc bản gốc khác lớn cỡ 4 feet vuông, đèn nên được đặt ở khoảng cách xa 8 feet thay vì 5 feet để đảm bảo độ chiếu sáng ổn định (hình dưới). Những khoảng cách như thế này dành cho đèn đánh sáng có thể được sử dụng cho những điều kiện làm việc đã được tiêu chuẩn hóa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí các thiết bị, bạn có thể đánh dấu vị trí của giá vẽ và đèn đánh sáng trên sàn studio.

Để chất lượng sao chụp được hoàn hảo bạn có thể tiến hành công việc với một đèn flash. Đơn giản bạn chỉ cần bấm đèn flash lần lượt từ mỗi vị trí mà bạn đặt một ngọn đèn để tạo độ chiếu sáng ổn định. Tất nhiên điều này chỉ có thể được thực hiện trong một căn phòng sáng lờ mờ, và trong nhiếp ảnh đèn flash mở thực tế, với màn trập mở ra đúng với các thiết lập thông số phơi sáng.

Cần phải đặc biệt cẩn trọng khi sao chụp những bản gốc có bề mặt sáng bóng. Trong trường hợp này bạn có để quan sát đối tượng trực tiếp từ mọi góc độ, chỉ sử dụng phương pháp thông dụng tìm kiếm dọc theo trục ống kính là không đủ. Khi kiểm tra hình ảnh trên một màn hình chỉnh tiêu cự, một lần nữa bạn không nên chỉ nhìn dọc theo trục ống kính mà cũng nên kiểm tra các góc của miếng kính mờ, nơi các tia xiên tấn công nó.

Để chuẩn hóa các điều kiện làm việc và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí các thiết bị, sẽ là một ý tưởng tốt nếu bạn đánh dấu các vị trí của giá vẽ gắn đối tượng sao chụp và đèn studio trên mặt sàn studio hay phòng làm việc.

(còn nữa)
Người dịch: Phạm Xuân Bách.
Dịch từ bài viết Understanding the Concept of ‘Copying’ in Photography của Narendra trên trang
www.instantshift.com

Xem tốt nhất với IE 7.0+, FireFox, Safari, Google Chrome, Opera (độ phân giải 1024x768+)
Copyright © 2010 by POLYGON Center. Designed by EGS.